Tản mạn dạy học trực tuyến thời COVID-19
Site: | Campus numérique francophone de Hô Chi Minh-Ville |
Cours: | Thiết kế và sản xuất video giáo dục phục vụ đào tạo hỗn hợp (blended learning) |
Livre: | Tản mạn dạy học trực tuyến thời COVID-19 |
Imprimé par: | Visiteur anonyme |
Date: | dimanche 6 avril 2025, 02:34 |
Description
Bản trình bày lại của bài viết được đăng trên tạp chí Người Đô Thị, tách thành nhiều kì:
- Kì 1: “Tản mạn dạy học trực tuyến thời COVID-19”, ngày 27/03/2020, https://nguoidothi.net.vn/tan-man-day-hoc-truc-tuyen-thoi-covid-19-22948.html
- Kì 2: “Tản mạn dạy học trực tuyến thời COVID-19: Cần 'giải oan' cho ứng dụng!”, ngày 28/03/2020, https://nguoidothi.net.vn/tan-man-day-hoc-truc-tuyen-thoi-covid-19-can-giai-oan-cho-ung-dung-22980.html
- Kì 3: “Tản mạn dạy học trực tuyến thời COVID-19: Đi tìm sự đồng bộ”, ngày 30/03/2020, https://nguoidothi.net.vn/tan-man-day-hoc-truc-tuyen-thoi-covid-19-di-tim-su-dong-bo-22999.html
1. Dạy học, giảng bài và nghe giảng

Có thể nói, hai phương thức dạy học chủ đạo được các trường học ưu tiên áp dụng trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tại Việt Nam hiện nay là giảng bài qua truyền hình và giảng bài trực tuyến (qua mạng Internet). Bài giảng truyền hình áp dụng chủ yếu ở bậc phổ thông. Nhiều địa phương mời các thầy cô giáo giảng hay, tổ chức ghi hình các bài giảng theo từng môn ở từng lớp, rồi xếp lịch phát trên sóng truyền hình và thông báo cho học sinh đúng ngày đúng giờ mở tivi lên nghe, hoàn toàn không có tương tác. Với Internet, các thầy cô sử dụng nhiều công cụ khác nhau để hẹn học sinh, sinh viên đến đúng ngày giờ thì kết nối và nghe giảng trực tiếp qua mạng, với ít nhiều khả năng tương tác, trao đổi qua lại.
Các bài giảng qua truyền hình hay qua Internet có một ưu điểm lớn nhất thấy rõ, đó là có người giảng giải chi tiết các nội dung của những bài học dài như vẫn thường gặp trên trường trên lớp, với giả định là người nghe sẽ tập trung tối đa và tiếp thu ở mức cao nhất mọi kiến thức được truyền đạt. Nếu điều kiện kĩ thuật cho phép, các bài giảng ấy có thể được lưu trữ trên Internet và cho phép học sinh, sinh viên truy cập, xem lại vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, đó cũng có thể chính là nhược điểm quan trọng về mặt giáo dục. Vì sao vậy?1.1. Truyền thụ kiến thức một chiều
Trước tiên, hãy xem xét một thái cực độc lập là truyền hình và video thuần
tuý. Khi xem tivi, điều gì khiến bạn chăm chú theo dõi màn hình? Nghe ai đó đọc
diễn văn hay giảng giải gì đó liên tục trong 45 phút, bạn có thường chuyển
kênh? Một chương trình giải trí đơn điệu, nhàm chán có giữ bạn được quá 30
phút? Một bộ phim thiếu hấp dẫn có thể khiến bạn kiên trì xem hơn 15 phút? Khi bạn
lướt Web, một đoạn video nếu không có gì đặc sắc trong 20 giây đầu tiên hoàn
toàn có thể bị bỏ qua nhanh chóng. Những bài nói chuyện của những diễn giả có sức
thu hút nhất thường cũng chỉ được biên tập cắt gọn trong vòng 5-10 phút và hiếm
khi dài quá 30 phút. Thành ra, các bài giảng hay đoạn phim giáo dục dưới dạng
video dài quá 15 phút khó lòng mà giữ chân được người học.
1.2. Tình trạng cô độc của người học
Sẽ có người nói rằng, giảng bài trực tuyến vẫn có cách để kiểm soát
tương tác như trong lớp học. Ở đây, chúng ta cần quan tâm đến một khái niệm thoạt
nghe rất lạ lẫm: sự cô lập của người học. Học ở nhà, học qua mạng, học mọi lúc
mọi nơi thì lẽ ra phải là hoà nhập chứ sao lại cô lập? Theo các giáo trình
chính quy về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) trong giáo
dục, sự cô lập của người học chính là tình trạng người học phải thực hiện hoạt
động học tập trong khi bị tách rời hoàn toàn khỏi môi trường học tập[1],
vốn có những yêu cầu và cách thức tổ chức riêng biệt trong phương thức giáo dục
truyền thống.
Ở đó, một khi bước qua cổng trường, đặt chân vào lớp học, người học đã bị hàng loạt các mối quan hệ học đường ràng buộc, phải tạm thời bỏ qua các mối bận tâm ngoài phạm vi môi trường học tập bao quanh. Ngay cả như thế, không phải lúc nào người học cũng có thể tập trung chuyên chú. Một mặt, người dạy phải dùng quyền hạn điều hành của mình để kiểm soát người học, tránh tình trạng thầy cứ giảng trò cứ làm việc riêng, nói chuyện riêng hay lơ đãng lướt Web trên điện thoại. Mặt khác, người dạy giỏi còn phải biết kết hợp vừa giảng vừa điều chỉnh nhịp điệu tuỳ theo phản ứng của người học ngay trước mặt, để duy trì không khí sinh động của lớp học và hứng thú học tập nơi người học.
Hầu hết những lợi thế trong phương thức dạy học tập trung đó đều bị mất đi trong môi trường học tập từ xa qua truyền hình hoặc Internet. Người học bị buộc phải tập trung vào mục tiêu học tập trong khi bị cô lập khỏi một môi trường thuần tuý dành cho học tập. Ngồi học ở nhà, làm sao tránh cồn cào khi mùi đồ ăn thơm phức trong bếp thoảng qua? Làm sao bình tâm trước màn hình hàng giờ khi hàng xóm nhà bên hát karaoke văng vẳng? Làm sao ngồi yên nghe giảng khi biết rằng cùng lúc ấy có một chương trình giải trí hay một bộ phim truyền hình hấp dẫn khó cưỡng? Làm sao không mơ màng lơ đãng lật sang trang Web khác xem những thứ nhẹ nhàng thú vị hơn hẳn những bài học khô khan và khái niệm phức tạp khi cả thầy lẫn bạn đều không thể phát hiện?...
[1] Delaby A. 2006. Créer un cours en ligne : De l’analyse de l’environnement à la réalisation technique. Paris : Editions d’Organisation. 178 p.
1.3. Các phương thức đào tạo từ xa
Đó là chưa kể đến yếu tố tuổi tác, tâm lí và khả năng tự chủ của người học.
Các phương thức đào tạo từ xa về cơ bản được thiết kế dành cho người trưởng
thành, vốn có nhu cầu và khả năng tự học cao. Ban đầu là đào tạo qua thư tín
(giáo dục hàm thụ) phổ biến trong nửa đầu thế kỉ XX, dựa hoàn toàn vào năng lực
đọc-hiểu của người học. Theo đà phát triển của công nghệ thì phương thức đào tạo
từ xa cũng chuyển mình từ thư tín qua truyền thanh và truyền hình, thịnh hành trong
những năm 1970-1980, cải thiện thêm khâu nghe-nhìn. Khi Internet phổ biến rộng
rãi trong những năm 1990-2000 thì khái niệm e-learning (học tập điện tử)
cũng ra đời, nâng tầm các hoạt động đào tạo từ xa thêm một bước, hỗ trợ tương
tác ở mức độ đơn giản. Từ cuối những năm 2000, công nghệ Web động rồi mạng xã hội
phát triển mạnh mẽ, tạo ra những biến chuyển lớn trong cách tổ chức các hoạt động
đào tạo từ xa, với rất nhiều công cụ hỗ trợ hiệu quả từ làm việc cá nhân đến
làm việc nhóm, từ biên soạn và chia sẻ tài nguyên đến hội thoại có tiếng, có
hình, v.v.
Nhưng suy cho cùng, công cụ cũng chỉ là công cụ, với tất cả những ưu điểm và nhược điểm tự thân của từng loại. Điều quan trọng là trước khi nghĩ đến công cụ, người dạy cần phân biệt được hoạt động học tập nào có thể thực hiện hiệu quả từ xa, và hoạt động nào chỉ có tác dụng tốt khi tập trung mặt đối mặt trên lớp. Từ đó mới có thể lựa chọn công cụ nào phù hợp nhất với loại hoạt động muốn tổ chức.
Tổ chức các buổi học phát trên truyền hình hay giảng bài trực tuyến như đang thấy, sẽ không khác gì bê nguyên lớp học tập trung tại trường đặt lên truyền hình hay Internet. Với mọi hạn chế về khả năng điều hành, kiểm soát người học từ xa, các nhà giáo dục lại đòi hỏi người học phải tự vượt qua mọi rào cản môi trường phi-học-tập xung quanh cũng như khắc phục mọi hạn chế về năng lực học tập tự chủ (đặc biệt ở học sinh nhỏ tuổi) để nghe giảng cho đạt hiệu quả. Xa hơn nữa, giảng bài và nghe giảng dù có tương tác (qua Internet) hay không (qua truyền hình) cũng chỉ là hai hoạt động dạy học chiếm vai trò chủ đạo trong lối giáo dục truyền thụ của vài chục năm về trước. Và sẽ rất đáng tiếc khi các công cụ đa dạng và phong phú của thời đại công nghệ số ngày nay lại chỉ được khai thác ở lớp bề mặt giản đơn nhất dựa trên một mô hình giáo dục cũ kĩ của nửa đầu thế kỉ XX.2. Công cụ dạy học trực tuyến
Quay lại câu chuyện người học cho điểm thấp khi dùng các ứng dụng hội thoại có hình để dạy học trực tuyến. Trước tiên, thiết tưởng cần phải gọi đúng tên công cụ. Ví dụ, hãng xe hơi T. có dòng xe V. được ưa chuộng. Hãng taxi M. đặt hàng mua một loạt xe V. để dùng chạy taxi. Người ta có thể nói xe taxi của hãng M. thuộc dòng xe V., nhưng không thể gọi xe V. là xe taxi.
Tương tự, một ứng dụng cụ thể bị cho điểm thấp mà chúng ta đang bàn là Zoom vốn không phải là ứng dụng dạy học trực tuyến. Đó là một công cụ hội nghị trực tuyến (Web conference), kèm theo nhiều chức năng bổ trợ khác, từ miễn phí đến có phí, phục vụ hội họp từ xa qua Internet. Việc nhiều giáo viên dùng Zoom cho mục đích giảng bài trực tuyến không thể biến Zoom thành một ứng dụng dạy học trực tuyến đúng nghĩa. Tình trạng gọi sai tên trong một cuộc truyền thông ồ ạt này, dù vô tình hay hữu ý, đã dẫn đến hậu quả là học sinh, sinh viên, cùng với gia đình họ và công chúng nói chung, hiểu sai bản chất của ứng dụng. Phản ứng thái quá của người học trong việc chấm điểm ứng dụng là điều đáng tiếc, nhưng về căn nguyên sâu xa thì lỗi không chỉ do riêng người học.
Bên cạnh Zoom, có rất nhiều những ứng dụng tương tự khác có thể hỗ trợ hội họp video (có cả tiếng lẫn hình) trực tuyến. Trước tiên có thể kể đến các chức năng phát hình trực tiếp trên Internet (live streaming) của Facebook và YouTube, với giao diện và công cụ bổ trợ tương đối hạn chế. Chuyên biệt và nhiều chức năng hơn thì có Skype hay Microsoft Teams, có thể cài đặt cả trên máy tính hay điện thoại để dùng. Tương tự, Google Hangouts Meet, AnyMeeting hay Adobe Connect cũng được thiết kế chuyên biệt cho nhu cầu hội họp từ xa nhưng cho phép kết nối trực tiếp từ Web mà không cần cài đặt phần mềm riêng trên máy tính...2.1. Các công cụ hội thoại video trực tuyến
Danh sách còn dài, cũng như không thể kể hết mọi chi tiết kĩ thuật của mỗi
công cụ. Nhưng chúng có một điểm chung là, tuỳ mỗi nhà phát triển mà các chức
năng bổ trợ kèm theo nhiều hay ít, được cung cấp hoàn toàn miễn phí, miễn phí
có điều kiện hoặc có thu phí, với chất lượng dịch vụ cũng thay đổi tương ứng. Đặc
biệt, một số nhà phát triển có các gói ưu đãi dành cho ngành giáo dục, như
Google hay Microsoft. Việc tập trung quá nhiều vào một công cụ nhất định có thể
làm chúng ta mất cái nhìn tổng thể, cũng là bỏ qua cơ hội lựa chọn các loại
công cụ khác nhau, phù hợp với các mục đích hay điều kiện, hoàn cảnh khác nhau
của người dùng, nhất là các gói dịch vụ ưu đãi dành cho ngành giáo dục.
Chỉ riêng với nhu cầu tổ chức giảng bài và nghe giảng trực tuyến như nhiều người vẫn làm, đã có thể liệt kê một số ứng dụng chuyên biệt với những đặc điểm chính như sau:
Tên ứng dụng (bản miễn phí hoặc ưu đãi cho ngành giáo dục) |
Số người tối đa |
Thời gian họp tối đa |
Số lượng cuộc họp |
50 |
10 giờ/ngày |
100 giờ/tháng |
|
100 |
40 phút |
Không giới hạn |
|
100 |
40 phút |
Không giới hạn |
|
4 |
Không giới hạn |
Không giới hạn |
|
Lifesize (gói miễn phí 6 tháng) |
25 |
24 giờ |
Không giới hạn |
Google Hangouts Meet (cá nhân) |
100 |
Không giới hạn |
Không giới hạn |
G Suite for Education (bao gồm Google Hangouts Meet) |
250 (áp dụng đến 01/07/2020) |
Không giới hạn |
Không giới hạn |
Microsoft Teams (cá nhân) |
50 |
4 giờ |
Không giới hạn |
Office 365 Education (bao gồm Microsoft Teams) |
250 |
4 giờ |
Không giới hạn |
Nguồn: Website của từng ứng dụng, ngày 22/03/2020
Ngoài giới hạn về số lượng người tham dự cùng lúc và thời lượng họp, sự khác biệt chính giữa các công cụ này nằm ở chất lượng truyền tín hiệu (âm thanh, hình ảnh), tính tiện nghi và mức độ tiện dụng của từng hệ thống. Các gói miễn phí thì chất lượng và tiện nghi bao giờ cũng thấp hơn các gói ưu đãi giáo dục và có phí. Mặc dù về ứng dụng cá nhân thì Skype phổ biến hơn, nhưng Zoom có vẻ được ưa thích hơn vì kết hợp được đồng thời nhiều yếu tố tương đối như: số người tham dự đủ đông (cho quy mô một lớp học), thời lượng đủ dài (gần bằng một tiết học), chất lượng truyền khá tốt so với Skype, công cụ tiện lợi, đơn giản, dễ xài. Nhưng câu hỏi cần đặt ra khi sử dụng các công cụ hội thoại video trực tuyến này là: giảng bài và nghe giảng trực tuyến có phải là cách chủ yếu hay thích hợp nhất để dạy học trực tuyến?
2.2. Các công cụ làm việc cá nhân và phối hợp trực tuyến
Nếu không muốn chỉ dừng lại ở mô hình giáo dục truyền thụ của hơn nửa thế
kỉ trước, chắc hẳn câu trả lời là không. Các nhà phát triển lớn như Google và
Microsoft có những gói dịch vụ ưu đãi dành cho giáo dục, ngoài việc đảm bảo chất
lượng hội thoại video trực tuyến cao hơn còn cung cấp một loạt các công cụ làm
việc cá nhân và làm việc nhóm khác cho giáo viên và học sinh, sinh viên. Trong
gói Office 365 Education mà Microsoft cung cấp miễn phí cho bất cứ ai có
hộp thư điện tử theo tên miền của ngành giáo dục, người dùng sẽ có thêm các
công cụ văn phòng cá nhân và hợp tác nhóm như không gian chia sẻ tài liệu, biên
soạn nội dung, lập phiếu khảo sát, v.v.
Trong khi đó, Google đã đi trước Microsoft một bước khi từ lâu đã tiên phong cung cấp các công cụ làm việc cá nhân và hợp tác hoàn toàn miễn phí cho tất cả mọi người (thông qua Google Drive). Không những thế, họ còn đi xa hơn khi phát triển một công cụ chuyên biệt cho nhu cầu dạy học trực tuyến của giáo viên là Google Classroom, cho phép soạn bài giảng, giao bài tập, chấm điểm bài làm, khảo sát ý kiến và thảo luận với sinh viên. Và gói G Suite for Education là sự nâng cấp của tất cả các dịch vụ dành cho cá nhân riêng lẻ (giáo viên hay sinh viên), tích hợp lại trong một hệ thống tập trung của một cơ sở giáo dục, với một mức chất lượng phục vụ cao hơn. Trong thực tế, không ít giáo viên đã biết kết hợp các công cụ cá nhân của Google để tổ chức việc dạy học trực tuyến cho các lớp học của riêng mình, và cũng đã có những trường học chủ động đăng kí trọn gói G Suite for Education để nhân rộng phạm vi sử dụng các công cụ này tại đơn vị của mình.
Tuy vậy, nói cho ngay thì các công cụ của Microsoft hay Google cũng chỉ phục vụ những nhu cầu dạy học rất cơ bản. Trong thực tiễn ứng dụng CNTT-TT trong giáo dục, có rất nhiều hoạt động dạy học khác cần những phương tiện chuyên biệt hơn so với những gì Office 365 Education hay G Suite for Education cung cấp. Để việc ứng dụng CNTT-TT đạt hiệu quả tại một trường học hay một cơ sở giáo dục (ở mọi cấp độ), một trong các điều kiện cần là phải có một “môi trường dạy-học trực tuyến” (Virtual learning environnement – VLE) hay một “hệ thống quản lí dạy-học trực tuyến” (Learning management system – LMS) cho phép quản lí tích hợp mọi hoạt động dạy và học của mọi giáo viên và học viên tại đơn vị của mình. Trong số các VLE/LMS phổ biến nhất hiện nay, nhóm bản quyền thương mại có thể kể đến Blackboard Learn, Dokeos, nhóm mã nguồn mở có thể kể đến Moodle, Claroline, Sakai, Canvas, Open edX, v.v.2.3. Hệ thống quản lí dạy học trực tuyến
Điều kiện tiên quyết để phát triển các VLE/LMS trong hệ thống giáo dục
là hành lang pháp lí và chính sách ứng dụng công nghệ. Về điểm này, có thể nói
là Việt Nam đã chuẩn bị tương đối đầy đủ từ khá sớm. Cụ thể, từ tháng 04/2016 Bộ
Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành Thông tư số 12/2016/TT-BGDĐT Quy định
Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tổ chức đào tạo qua mạng. Liền sau
đó là một loạt các chính sách liên quan ra đời, như Đề án “Tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy-học, nghiên cứu
khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020,
định hướng đến năm 2025” (Quyết định số 117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) và Quy
chế đào tạo từ xa trình độ đại học (Thông tư số 10/2017/TT-BGDĐT).
3. Sự đồng bộ và công bằng trong dạy học trực tuyến
Sự đồng bộ chúng ta cần tìm kiếm ở đây, một mặt đó là giữa những biện
pháp cá nhân với các giải pháp hệ thống. Mặt khác, cũng cần sự đồng bộ giữa đáp
ứng nhu cầu khẩn cấp ngắn hạn với chuẩn bị các điều kiện cả cần lẫn đủ trong
trung hạn và dài hạn. Cuối cùng, có một khía cạnh rất đáng quan tâm, đó là tính
chất công bằng của các giải pháp được áp dụng.
Hãy nói trước tiên về sự công bằng. Trong môi trường dạy học tập trung, bất kể người học sống ở đâu, ăn mặc thế nào, đi lại ra sao, những phương tiện cần thiết nhất cho việc học đều được nhà trường đảm bảo và với mức đầu tư ngang bằng cho toàn bộ người học. Các phương tiện thiết yếu đó bao gồm phòng ốc, bàn ghế, sách giáo khoa hay giáo trình, máy móc thực hành, đồ dùng thí nghiệm, v.v. Khi học trực tuyến, người học buộc phải có thêm phương tiện làm việc cá nhân từ xa (tối thiểu là máy tính, tai nghe hoặc loa, webcam, kết nối Internet), với khả năng đầu tư hoàn toàn khác biệt, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng gia đình.
Cá nhân người viết làm ban đại diện cha mẹ học sinh của một lớp 8 tại một trường thuộc một quận trung tâm của thành phố đông dân nhất nước. Trong số 46 học sinh, 10 em (trên 20 %) có cả cha lẫn mẹ chỉ dùng điện thoại di động để liên lạc mà không dùng bất cứ phương tiện điện tử hay công nghệ nào khác (kể cả e-mail, mạng xã hội hay các ứng dụng thảo luận nhóm). Con số nhỏ này tuy không đủ tính đại diện, nhưng cũng có thể giúp chúng ta suy nghĩ cẩn trọng hơn, tránh nhận định mặc nhiên rằng tất cả các gia đình học sinh, sinh viên đều có thể dễ dàng trang bị máy móc phương tiện cho con em mình học tập từ xa.3.1. Khía cạnh xã hội của dạy học trực tuyến bằng video
Tiếp theo, đó là xu hướng sử dụng các bài giảng video trực tuyến thay thế bài giảng trên lớp. Về mặt kĩ thuật, dung lượng tối thiểu của một đoạn video dài 5 phút thường dùng trực tuyến hiện nay dao động trong khoảng 50-100 MB. Một bài giảng video dài 40 phút (trực tiếp hoặc phát lại) sẽ tốn ít nhất 400-800 MB; chất lượng video càng cao dung lượng càng lớn. Các gói thuê bao Internet cố định cho máy tính với băng thông tiêu chuẩn hiện nay dao động khoảng từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng mỗi tháng. Nếu dùng dữ liệu Internet di động, một trong các gói cước ưu đãi nhất hiện giờ cũng tốn 200.000 đồng/tháng để có 2 GB mỗi ngày, chỉ trong một buổi học là đã “hết vốn”. Nhà nào càng có nhiều tiền để mua băng thông và lưu lượng dữ liệu cao hơn thì nghe và nhìn càng “sướng”. Còn ít tiền, dùng các gói truy cập tiêu chuẩn thì âm thanh hình ảnh lúc rõ nét lúc mờ nhoè rột rẹt tuỳ ý, không thể đảm bảo ổn định.

3.2. Thay đổi tâm thế dạy học trực tuyến
Thay vào đó, vẫn có những cách dạy học khác đạt hiệu quả mà giảm bớt bất
công xã hội. Điểm cốt lõi nằm ở chỗ, người dạy cần quan niệm khác về việc học từ
xa. Đó không phải là một bản sao máy móc của lớp học tập trung, nơi các mục
tiêu của một bài học gói gọn trong một bài giảng, với sự tương tác đồng thời mặt
đối mặt giữa người dạy và người học. Ở đây, người học phải tự mình chủ động đạt
được các mục tiêu đó trong một môi trường không phù hợp cho việc học thuần tuý,
do đó cần một quãng thời gian dài hơn (có thể rải ra trong nhiều buổi, nhiều
ngày) và sự hợp tác nhóm mạnh mẽ hơn với các bạn cùng học.
Từ nguyên tắc đó, có thể chia ra các hoạt động tự học (kết hợp nghe-hiểu, đọc-hiểu, tự kiểm tra đánh giá) và hợp tác nhóm (thảo luận, phối hợp làm bài tập nhóm). Với một môn học được thiết kế mỗi tuần 2-3 tiết, người học sẽ có thể chia thành nhiều lượt làm việc vào các thời điểm khác nhau trong tuần, để đảm bảo vẫn có thể hoàn thành toàn bộ khối lượng công việc được giao mà không nhất thiết phải ngồi tập trung trước màn hình nghe giảng liên tục mỗi lần 90-135 phút. Các hoạt động tự học và làm việc hợp tác hiệu quả trong học tập từ xa chính là yếu tố quyết định giúp phá vỡ tình trạng người học bị “cô lập” khỏi một môi trường thuần tuý dành cho giáo dục.
Sự thay đổi này có vẻ đơn giản, nhưng thực ra đòi hỏi một sự nỗ lực vô cùng lớn của cá nhân người giáo viên. Trước tiên là ở cách trình bày tài nguyên học tập dành cho người học. Trong dạy học tập trung, sách hay giáo trình thường quá dài hoặc khô khan (dẫn đến khó đọc khó nhớ), trong khi đó các bài giảng tóm tắt dưới dạng trình chiếu thường quá cô đọng (dẫn đến khó hiểu) vì chỉ dùng để dẫn dắt ý tưởng để giáo viên giảng giải trong buổi dạy. Trong dạy học từ xa, người dạy phải dành nhiều thời gian biên soạn các bài hướng dẫn đọc-hiểu sao cho vừa đủ chi tiết để dễ hiểu (thay cho lời giảng được nghe trên lớp), vừa đủ ngắn để không gây cảm giác uể oải và tâm lí ngán ngẩm.
Không dừng lại ở đó, hoạt động cá nhân đọc-hiểu này sẽ dễ rơi vào bế tắc,
do trình độ người học trong một lớp luôn có sự chênh lệch, nên rất cần sự hỗ trợ
thông qua các bài tập tự kiểm tra đánh giá (để đo lường mức độ hiểu bài của
mình), cũng như các hoạt động thảo luận, hợp tác nhóm. Tục ngữ có câu “học thầy
không tày học bạn”, sẽ nghiệm rất đúng trong trường hợp này. Thế là, người dạy
lại phải dày công thiết kế các bài tập trắc nghiệm (với những công cụ, phần mềm
riêng), cũng như đầu tư suy nghĩ công phu cho việc tổ chức các diễn đàn thảo luận
nhóm và giao nhiệm vụ trong các bài tập nhóm. Mỗi một việc trong số đó lại đòi
hỏi thêm kinh nghiệm và thời gian để tìm kiếm, học hỏi các công cụ và phương
pháp tổ chức phù hợp.
3.3. Nhìn xa hơn các biện pháp “chữa cháy”
Tất cả những thay đổi nói trên, lí tưởng nhất là phải được chuẩn bị đầy
đủ, chu đáo, toàn diện ngay từ đầu trong chính sách và kế hoạch triển khai ứng
dụng CNTT-TT trong dạy học của từng trường. Nếu chưa có, nhất là trong bối cảnh
dịch bệnh hiện nay đang cần những biện pháp gấp rút ngắn hạn, thì bắt đầu quan
tâm đến việc đó vẫn chưa muộn. Điều đáng mừng là ở các cấp độ khác nhau đã có không
ít sáng kiến và nỗ lực khắc phục những rào cản hiện thời, tích cực áp dụng nhiều
cách làm khác nhau, dù hiệu quả có thể chưa cao hoặc chưa đồng bộ.
Trước tiên, Bộ GD&ĐT đã liên tục có những chủ trương, chỉ đạo sát sao trong việc điều chỉnh khung thời gian năm học, tinh giản chương trình. Bên cạnh đó, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) cũng nhanh chóng huy động các doanh nghiệp và đơn vị trong lĩnh vực TT&TT cam kết hỗ trợ miễn phí phát sóng truyền hình hoặc cước phí truy cập dữ liệu cho học sinh, sinh viên và giáo viên (dù chưa rõ cách thức thực hiện như thế nào). Các Sở GD&ĐT nhiều địa phương đã nỗ lực bắt tay vào việc quay phim, ghi hình, ghi âm bài giảng để phát trên truyền hình hay cho truy cập trên Internet... Các trường đại học cũng chủ động tìm các cách khác nhau để khuyến khích thầy cô tham gia giảng bài trên mạng. Giáo viên nhiều nơi dù không có nhiều kinh nghiệm vẫn hăng hái vào cuộc, vừa làm vừa học, dù muôn vàn sự cố nảy sinh dẫn đến lắm chuyện cười ra nước mắt.
Dĩ nhiên, trong thực tế luôn có những đơn vị, cá nhân có sự chuẩn bị bài bản hơn hoặc tích luỹ nhiều kinh nghiệm hơn từ trước. Nhưng nhìn chung trong bức tranh tổng thể, có thể thấy rằng một số nguyên tắc cơ bản trong dạy học từ xa chưa được hiểu rõ. Trong khi đó, chỉ cần lưu tâm một chút thì những biện pháp “chữa cháy” tức thời hoàn toàn có thể có tác dụng đều khắp hơn, giúp tập trung sức lực và chi phí cho những khoản đầu tư thực sự thích đáng.4. Giải pháp hài hoà giữa ngắn hạn và dài hạn
Từ những góc nhìn đã nêu trong các phần trước, có thể gợi ý một số hướng tiếp cận để giải quyết hài hoà giữa các nhu cầu ngắn hạn và dài hạn như sau:
1. Cần đề cao nguyên tắc chung là mọi hoạt động dạy-học từ xa khi trường học đóng cửa vì dịch bệnh Covid-19 chỉ nên tập trung vào những mục tiêu và nội dung thiết yếu trong chương trình thiết kế của môn học. Các mục tiêu và nội dung thiết yếu này đồng thời phải phù hợp với tính chất tổ chức dạy và học từ xa, và người dạy hoàn toàn có quyền chủ động kết hợp, điều chỉnh sao cho đạt hiệu quả cao nhất, chứ không bắt buộc phải dạy theo đúng trình tự thiết kế trong chương trình dạy học tập trung. Điều đó có nghĩa là hoạt động dạy học từ xa không nhằm thay thế hoàn toàn hoạt động dạy học tập trung, mà là một mặt nhằm duy trì mối liên lạc giữa người dạy với người học để giữ nhịp điệu học tập, mặt khác có thể cho phép rút ngắn thời gian hoàn tất chương trình sau khi trường học mở cửa trở lại.
Các nỗ lực điều chỉnh khung thời gian năm học, tinh giản chương trình, v.v. của Bộ GD&ĐT và các Sở GD&ĐT rất đáng ghi nhận, nhưng các văn bản chỉ đạo đã ban hành dường như đã quá vội vã trong các phương án công nhận kết quả dạy học từ xa. Điều nên làm là, thay vì quy định chung chung theo kiểu “kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng các hình thức phù hợp” mà không có cách hiểu đồng nhất như thế nào là phù hợp, thì hãy cho phép giảm bớt các cột điểm thành phần vốn có trong tiến trình dạy học tập trung. Lí do chính là chúng ta bị buộc phải chuyển từ dạy học tập trung sang dạy học từ xa trong gấp rút, thiếu chuẩn bị chu đáo, các yếu tố công bằng và đảm bảo chất lượng không rõ ràng.
Trên tinh thần là trường học sẽ mở cửa trở lại, người dạy sẽ đánh giá tình hình cụ thể kiến thức và kĩ năng mà người học đã lĩnh hội trong quá trình học tập từ xa, từ đó xác định những nội dung và thời gian cần thiết để bổ túc, bù đắp cho đồng đều. Và chỉ ưu tiên sử dụng bài kiểm tra cuối kì, tổ chức tập trung như thông thường, để làm cơ sở công nhận kết quả. Thậm chí, nếu cần thiết có thể tổ chức hai lượt kiểm tra cuối kì (mà không phải thi lại), để tạo cơ hội cho những trường hợp người học không có điều kiện thuận lợi để học từ xa và bị quá tải khi phải học dồn gấp rút trong thời gian tập trung ngắn ngủi còn lại.4.1. Tránh sao chép máy móc lớp học truyền thống
2. Trong tổ chức dạy học trực từ xa, tránh tập trung quá nhiều vào việc bê
nguyên bài giảng trên lớp lên trên mạng hay truyền hình. Ngay cả ở các nước
phát triển trên thế giới, cả hạ tầng công nghệ lẫn trình độ giáo dục đều cao
hơn Việt Nam rất nhiều, không nơi nào biến sóng truyền hình cả nước thành các lớp
học từ xa hàng ngày hàng giờ như chúng ta đang làm. Có thể, các nhà giáo dục
nghĩ rằng đó là trách nhiệm của mình, cần phải thực hiện tới cùng rồi nếu hiệu
quả không đạt thì cũng có thể nói rằng mình đã làm hết sức. Nhưng thay vì tốn rất
nhiều chi phí và công sức quay phim ghi hình bài giảng rồi chiếm trọn sóng truyền
hình để phát lại với hiệu quả rất thấp, thì hoàn toàn có thể đầu tư cho những
việc khác có ý nghĩa và hiệu quả hơn.
Thay cho các bài giảng truyền hình đồng thời, nên ưu tiên đầu tư và khuyến khích các thầy cô giáo biên soạn các bài viết hướng dẫn đọc-hiểu, hoặc kết hợp vừa trình chiếu vừa ghi âm lời giảng. Nội dung trong các tài nguyên dạy học dạng này không phải là toàn bộ bài giảng của từng tiết học, mà cần tập trung vào các vấn đề quan trọng, dễ đọc/nghe và hiểu, cô đọng trong những khoảng thời gian ngắn, bình quân 5-10 phút. Các tài nguyên dạng này có thể cung cấp cho người học dưới nhiều hình thức khác nhau (e-mail, website, mạng xã hội, ứng dụng di động...) Do không bắt buộc người học phải tập trung cùng lúc để theo dõi cũng như không quá lệ thuộc vào một phương tiện duy nhất, cách làm này sẽ góp phần giảm bớt bất công xã hội trong khả năng tiếp cận nội dung giáo dục.
4.2. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập trực tuyếntừ xa
3. Bên cạnh đó, người dạy nên tăng cường biên soạn các bài tập trắc nghiệm
tương tác (hoặc sử dụng các nguồn sẵn có), giúp người học có thể tự kiểm tra mức
độ hiểu bài của mình ngay sau mỗi bài đọc-hiểu hoặc nghe-hiểu. Các bài tập này
có thể biên soạn bằng các phần mềm chuyên biệt hoặc bằng chính các ứng dụng văn
phòng thường dùng. Thực tế giáo dục cho thấy phần lớn giáo viên đều có bộ câu hỏi
trắc nghiệm khách quan, và đây chính là lúc để phát huy tác dụng của các bộ câu
hỏi này.
4.3. Hoạt động hợp tác và phối hợp nhóm
4. Để tăng cường động cơ học tập của người học, đặc biệt từ cấp II trở lên, nên kết hợp bổ sung các hoạt động thảo luận nhóm từ xa có hướng dẫn của giáo viên. Đồng thời, khuyến khích người dạy tổ chức các bài tập nhóm, giao nhiệm vụ phối hợp để cùng vận dụng các kiến thức đã học qua các bài đọc-hiểu và nghe-hiểu. Các hoạt động nhóm này có thể khai thác mọi công cụ cá nhân trong tầm tay người dạy và người học (e-mail, hệ thống chia sẻ tài liệu, mạng xã hội, ứng dụng di động...), nhưng đặc biệt ưu tiên các gói giải pháp chuyên dụng ưu đãi cho ngành giáo dục như G Suite for Education, Office 365 Education...
5. Từ những thay đổi hướng tiếp cận như trên, các buổi hội thoại trực tuyến có hình sẽ không còn phục vụ mục đích bê nguyên bài giảng trên lớp lên mạng nữa. Nhiệm vụ ưu tiên ở đây sẽ là nhằm giải đáp thắc mắc, thảo luận hoặc hướng dẫn trực tiếp những nội dung, vấn đề quan trọng mà người học không thể giải quyết được bằng cách tự học hay làm việc nhóm từ xa. Số lượng cuộc họp cũng như thời lượng mỗi cuộc họp sẽ giảm đi đáng kể. Đồng thời, do đã trải qua các hoạt động tự học và làm việc nhóm mà không giải quyết được nhu cầu, động lực tham gia cũng như mức độ hứng thú tập trung của người học trong buổi hội thoại với người dạy sẽ cao hơn nhiều.
4.4. Tầm nhìn lâu dài
6. Về lâu dài, mỗi trường cần chủ động nâng cấp, hoàn thiện hệ thống kĩ
thuật của mình sao cho đủ năng lực truyền tải và tích hợp đầy đủ các công cụ cần
thiết phục vụ các hoạt động dạy và học đa dạng khác nhau, hạn chế việc sử dụng
phân tán các công cụ cá nhân riêng lẻ. Bên cạnh đó cũng chuẩn bị đầy đủ các
phương tiện hỗ trợ người học kết nối, sử dụng CNTT-TT phục vụ học tập.